Kết quả từ 1 tới 18 trên tổng số 18

Chủ đề: Kể chuyện về các nhà thơ, nhà văn Việt Nam

  1. #1
    Ngày tham gia
    08-04-09
    Đến từ
    Cuộc sống và tình yêu
    Bài viết
    732
    Rep Power
    46

    Mặc định Kể chuyện về các nhà thơ, nhà văn Việt Nam

    Nhà thơ Hoàng Cầm viết thư tình .

    Tám tuổi đã biết viết thư tình cho người hơn mình tám tuổi
    Tôi cảm thấy có nghiệp văn chương từ bé. Tôi sớm có cái buồn cô đơn từ khi mới lên năm, lên bảy. Giời bắt tôi yêu sớm quá! Ngày ấy tôi mới tám tuổi, hôm ấy tôi từ chỗ trọ học trên thị xã Phủ Lạng Thương về nhà chiều thứ bảy. Chưa kịp bước vào trong nhà đã thấy một cô gái đang cúi bên chiếc bồ hàng xén của mẹ tôi. Khi cô ấy ngẩng đầu nhìn ra đường, thì cậu bé là tôi choáng váng tâm hồn. Người con gái ấy tên là Vinh, hơn tôi tám tuổi. Thứ bảy sau, về nhà, tôi trao bức thư tỏ tình đầu tiên viết bằng thơ lục bát dài hơn một trang giấy kẻ học sinh, trên vẽ hoa bướm, một vài ngọn núi, dòng sông, với dòng chữ viết bằng mực tím nắn nót: “Em gửi chị Vinh của em”. Chị thường hay nhờ những đêm trăng sáng tổ chức những đám thanh thiếu niên tụ tập ở cái bãi sau ga, hát ví, hát trống quân, hát ống, hát giao duyên,… Chị là bà chúa của dân ca. Giọng ngọt, say như mật ong, đôi mắt đen thăm thẳm với hàng mi cong và dài, má luôn ửng đỏ, răng đen rưng rức hạt na. Chị Vinh chính là người chị của em trong bài thơ sau này tôi viết: Lá diêu bông.

    (Hoàng Cầm kể)
    (Nguồn: Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Hải Hà- NXB Giáo Dục H. 2003)

    ============ o O o ============



    Nhà thơ Quang Dũng bị bắt nhầm

    Sinh thời, nhà thơ Quang Dũng là người cao lớn, đẹp trai, lại còn “râu hùm, hàm én, mày ngài” rất oai phong, lẫm liệt. Thế nhưng ông lại là người hiền lành, có phần ngây thơ, chân thật. Bởi thế mà trong chiến tranh ông vướng phải một chuyện dở khóc dở cười.
    Đó là những năm giặc Mĩ đánh phá miền Bắc rất ác liệt. Một hôm, Quang Dũng đang đi lang thang ở vùng đồi Hà Sơn Bình, chủ yếu là để tìm cảm hứng cho thơ ca. Xã bên cạnh, bộ đội bắn rơi máy bay Mĩ, dân quân đang tổ chức truy lùng giặc lái nhảy dù xuống. Quang Dũng cao to như Tây, lại để cả ria mép và râu cằm nên dân quân tưởng nhầm là phi công Mĩ. Quang Dũng tha hồ phân bua rằng mình là một nhà thơ. Đội trưởng nghe “giặc lái” nói bằng tiếng Việt, hơi chần chừ. Nhưng đội phó gạt đi: Thiếu gì giặc lái biết tiếng Việt. Chắc ăn là ta cứ phải giải lên huyện! Quang Dũng bị trói, giải lên huyện thật. Khi đến cổng huyện, may gặp một đoàn nhà báo ở Trung ương. Mọi người ngạc nhiên chào anh và xúm vào hỏi lí do.

    Quang Dũng tủm tỉm cười bảo: Họ tưởng mình là phi công Mĩ. Rồi ông đùa: Cao ta có lúc cũng có lợi, nhưng cũng có khi có hại các ông ạ.

    (Theo Ngô Quân Miện và Trần Lê Văn)
    thay đổi nội dung bởi: ThuongNu, 16-07-2009 lúc 04:03 AM
    Dẫu có buồn, dẫu có vui cũng là kỷ niệm.

  2. #2
    Ngày tham gia
    08-04-09
    Đến từ
    Cuộc sống và tình yêu
    Bài viết
    732
    Rep Power
    46

    Mặc định

    Xuân Diệu - Huy Cận chuyện văn và chuyện đời


    Năm 1942, khi Huy Cận đỗ kỹ sư, làm việc ở Sở nghiên cứu tằm tang, Xuân Diệu điện ra hỏi: "Diệu từ chức được chưa?", Huy Cận trả lời: "Từ chức ngay! Về Hà Nội ngay". Từ đó, đôi bạn ở 61 phố Hàng Bông.

    Xuân Diệu và Huy Cận bây giờ đã trở thành người thiên cổ nhưng thơ ca và tình bạn cảm động của hai ông còn ngân vọng mai sau.
    Xuân Diệu (sinh năm 1916), Huy Cận (sinh năm 1919) tuy quê gốc cùng ở Hà Tĩnh nhưng Xuân Diệu lại sinh ra và lớn lên ở Bình Định; mãi đến năm 1936, họ mới gặp nhau lần đầu ở trường Khải Định (quốc học Huế). Hai người đọc thơ cho nhau nghe và cảm nhau tức khắc, trở thành đôi bạn tri ân, gắn bó, chung sống bên nhau suốt gần nửa thế kỷ cho đến năm 1985 khi Xuân Diệu mất. Nghĩ lại mối tình ấy, chính Huy Cận nhiều khi cũng thấy làm lạ:

    Hai đứa rồi ra nghĩ cũng kỳ
    Thương nhau hơn ruột thịt dường ni
    Mà đàn mỗi đứa riêng âm sắc
    Cuộc sống muôn màu lặp lại chi!

    (Nằm bệnh viện, gửi Diệu, 1974)

    Đấy là sau này, nhưng ngay khi còn thanh niên, năm 1942, Huy - Xuân đã thấy có một sự gắn bó "định mệnh". Khi Xuân Diệu làm tham tá thương chánh ở Mỹ Tho, có gửi vải may quần áo cho Huy Cận, lúc đó đang học cao đẳng nông lâm sắp tốt nghiệp. Huy Cận viết:

    Mở thư một sáng lạnh lùng
    Hai chiều vải dệt tao phùng Huy - Xuân
    Dọc ngang tơ chỉ sát gần
    Đi về mấy dạo hai thân một hồn

    Vào lúc 7 giờ 40 phút ngày 18/12/1985, Xuân Diệu mất, đúng lúc ấy, Huy Cận đang ở Dakar (Senegal) đột ngột bị xuất huyết nặng.

    Thật ra, tình bạn của Xuân Diệu và Huy Cận bắt nguồn từ tình yêu quê hương đất nước, yêu văn hóa dân tộc, rồi sau này là tình yêu cách mạng. Những tình yêu này, thật ra chỉ là một.

    Cuối năm 1937, Xuân Diệu ra Hà Nội học Trường Luật và viết báo Ngày nay. Năm 1938, Huy Cận ra sống với Xuân Diệu ở chân đê Yên Phụ. Năm 1939, họ chuyển về một căn gác nhỏ ở 40 phố Hàng Than. Xuân Diệu tiếp tục học luật và dạy văn ở Trường Thăng Long. Huy Cận học cao đẳng nông lâm. Dưới gác là Lưu Trọng Lư. Sinh thời Huy Cận có kể với tôi rằng, khi Huy Cận in bài Tràng Giang, Lưu Trọng Lư phục lắm, kéo đi chiêu đãi phở Hàng Mành ngon có tiếng hồi bấy giờ. Ăn xong, Lưu Trọng Lư móc túi, không thấy tiền đâu đứng ngơ ngác giữa quán, cuối cùng, thành ra Huy Cận lại phải chiêu đãi.

    Đầu năm 1940, "cơm áo không đùa với khách thơ", Xuân Diệu buộc phải vào Mỹ Tho làm tham tá thương chánh. Những người quen biết Xuân Diệu và Huy Cận, thường kể lại rằng, đó là cách hai người nuôi nhau ăn học. Năm 1942, khi Huy Cận đỗ kỹ sư, làm việc ở Sở nghiên cứu tằm tang, Xuân Diệu điện ra hỏi: "Diệu từ chức được chưa?", Huy Cận trả lời: "Từ chức ngay! Về Hà Nội ngay". Từ đó, đôi bạn ở 61 phố Hàng Bông. Những tác phẩm của Xuân Diệu, Huy Cận thời đó thường có dòng "Huy Xuân xuất bản" trên bìa sách.

    Năm 1941, Huy Cận tham gia Việt Minh. Năm 1942 đến lượt Xuân Diệu. Năm 1944, Xuân Diệu về thăm quê nội ở Can Lộc rồi lên quê hương Huy Cận ở làng Ân Phú, huyện Hương Sơn. Ông giúp mẹ Huy Cận một số tiền để trả nợ, nói: "Anh Huy Cận hoạt động cách mạng rồi bà ạ. Nếu có điều gì chẳng may, con sẽ thay anh Cận cùng bà lo việc gia đình".

    Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, cả hai cùng lên chiến khu và được kết nạp vào Đảng. Sau hòa bình (1954), Xuân Diệu và Huy Cận được bố trí ở một biệt thự số 24 Cột Cờ, nay là Điện Biên Phủ. Xuân Diệu từng có câu:

    Nhà tôi 24 Cột Cờ
    Ai yêu thì đến, hững hờ thì qua...

    Đó là thời kỳ cả hai cùng cặm cụi làm việc và đạt được những thành tựu lớn trong văn học. Ngoài thơ, Xuân Diệu có Các nhà thơ cổ điển Việt Nam và nhiều công trình có giá trị khác mà nhiều học giả đánh giá, một mình ông là "cả một viện văn học".

    Nhưng không chỉ cặm cụi trong "tháp ngà". Các nhà thơ của chúng ta đã hơn mười lần đi thực tế ở khu bốn ác liệt, Xuân Diệu đã thực hiện gần một nghìn cuộc bình thơ cho chiến sĩ, công nhân, nông dân và trường học, có sức động viên rất lớn. Trong những ngày ấy, hai cảm xúc lớn của Xuân Diệu là yêu và căm "yêu với căm, hai đợt sóng ào ào, vỗ bên lòng dội mãi tới trăng sao". Ngoài những bài thơ đanh thép tố cáo tội ác giặc Mỹ, Xuân Diệu vẫn không ngừng làm thơ tình. Ngoài những bài thơ thuần túy như Biển và các bài khác trong tập Cầm tay mà Xuân Diệu từng tâm sự "viết cho bạn trẻ muôn đời vì tình yêu và vĩnh hằng", những bài thơ tình trong chống đế quốc Mỹ của ông cũng rất thấm lòng người. Ở Thanh Hóa, thấy người vợ tiễn chồng ra mặt trận, ông viết ngay được bài Vợ chuẩn bị hành trang cho chồng đi vào hỏa tuyến, trong đó có những câu:

    Em choàng lưới mũ cho anh
    Áo anh em nhuộm màu xanh lá rừng
    Chiếc ba-lô cũ đã dùng
    Tay em khéo léo chữa từng đường kim

    Đó cũng là lúc Huy Cận ngợi ca những người phụ nữ Việt Nam anh hùng:

    Tôi chào chị, chào em nghìn đuốc sáng
    Một trời sao dân tộc cánh vàng bay...

    Sau giải phóng năm 1975, cả hai người vẫn "thi đua" viết, Xuân Diệu được một tập thì Huy Cận cũng một tập. Cả hai hồn thơ lớn đang dang cánh thỏa sức bay trên bầu trời cao rộng của thơ ca, trong cuộc sống tình bạn tưởng như bất diệt. Bỗng một ngày vào tháng 11/1985, Xuân Diệu ngồi bệt giữa phòng nói với Huy Cận: "Trong hai đứa mình, đứa nào chết trước là sướng, đứa nào ở lại sau chắc khổ lắm". Không ngờ đó là lời trăng trối cuối cùng. Một tháng sau, Xuân Diệu mất. Tôi nhớ, đó là lúc ở Hà Nội đang diễn ra hội nghị những người viết văn trẻ. Những nhà văn, những cây bút trẻ trong cả nước đang háo hức chờ ông đến nói chuyện thì vô cùng đột ngột và thương tiếc khi nghe tin ông mất!...

    Người ta đã viết nhiều về Phong trào thơ mới, về riêng Xuân Diệu và Huy Cận. Người ta cho rằng, các ông đã đem lại cho văn chương Việt Nam những sự mới mẻ từ ảnh hưởng của phương Tây. Người ta nói Xuân Diệu là "ông hoàng của thơ tình", Huy Cận là nhà thơ "mang tâm thức vũ trụ". Tất cả những điều ấy đúng nhưng không phải cốt lõi nhất. Có lẽ cốt lõi nhất, theo tôi, thơ mới, thơ Xuân - Huy có ngọn nguồn chính từ dân tộc và tinh thần chủ đạo trong dòng thơ đó vẫn là tinh thần yêu nước, một đặc điểm nổi bật nhất, một truyền thống quý báu nhất của văn học Việt Nam.

    Tôi đã đọc lại nhiều lần thơ của hai ông và càng ngày càng tin chắc ở điều đó. Thỏa chí nhất của Xuân Diệu là viết về niềm tự hào, về sức sống của dân tộc. Khi cờ đỏ sao vàng cách mạng treo cao, trong sự thăng hoa ấy, Xuân Diệu như càng được bay lên, hứng khởi đến từng chân tơ, kẽ tóc:

    Việt Nam! Việt Nam! Cờ đỏ sao vàng!
    Những ngực nén hít thở Ngày độc lập!
    Nguồn lực mới bốn phương lên tới tấp!
    Nếp cờ bay chen vỗ sóng bài ca...

    Được "trang hoàng" cho Tổ quốc, đấy muôn đời là sứ mạng, là vinh quang của mọi nhà thơ, của mỗi con người. Xuân Diệu đã từng viết một cách sâu sắc: "Cách mạng đã mở ra cho tôi những chân trời mà trước đây tôi không thể mơ ước được... Con dế mèn trong đám cỏ gáy lên không phải để cho riêng mình. Nó gáy lên để tìm bạn. Sự công nhận của đông đảo công chúng là nguồn sức mạnh, nguồn cảm hứng của tôi".

    (Nguồn: Nhân Dân)
    Dẫu có buồn, dẫu có vui cũng là kỷ niệm.

  3. #3
    Ngày tham gia
    08-04-09
    Đến từ
    Cuộc sống và tình yêu
    Bài viết
    732
    Rep Power
    46

    Mặc định

    Nhà thơ chủ hôn


    Nhà thơ Thanh Tịnh, cựu Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội, là một người có thâm niên làm chủ hôn cho nhiều đám cưới. Dưới thời ông làm chủ nhiệm (Tổng biên tập) tạp chí Văn nghệ Quân đội, hầu như cán bộ nào xây dựng gia đình cũng mong được ông làm chủ hôn, vừa trang nghiêm lại vui nhộn và với tài ứng xử của ông, có thể giải quyết êm xuôi mọi trắc trở.
    Đặc biệt lời phát biểu cuối cùng của ông bao giờ cũng đầy bất ngờ, đem lại tiếng cười thoải mái. Chẳng hạn, trong lần đám cưới của hoạ sĩ Hà Trì, một người gắn bó lâu năm với tạp chí Văn nghệ Quân đội, khi phát biểu cuối hôn lễ, nhà thơ Thanh tịnh nhân danh cán bộ cơ quan chúc cô dâu, chú rể bách niên giai lão. Lặng một chốc, nhà thơ chuyển gam, nói rằng khi anh chị sinh cháu thì cho ông được phép đặt tên cháu. Hoạ sĩ Hà Trì rất cảm động và nghĩ rằng, mình là hoạ sĩ, hạn chế về mặt ngôn ngữ nên được nhà thơ nổi tiếng đặt tên hộ cho con mình thì còn gì bằng nên vội rút ngay cuốn sổ tay ra và nói: “Thưa anh, anh định đặt tên cho cháu là gì, nói cho vợ chồng em ghi, kẻo sau quên mất”.

    Nhà thơ Thanh Tịnh dõng dạc:
    - Nếu đẻ con trai đầu lòng, tôi đề nghị đặt tên là Hà Bá hoặc Hà Thủ Ô, còn con gái thì là Hà Xa Đại Tảo Hoàn.
    Cả hội trường cười bung. Hà Trì lúc đầu định ghi, nhưng sau chợt hiểu ra, cũng cười và nhét vội sổ tay vào túi áo.
    Còn trong đám cưới nhà phê bình, nhà thơ Lê Thành Nghị, chủ hôn Thanh Tịnh lại phát biểu căn dặn cô dâu, chú rể theo một cách khác, cũng hết sức bất ngờ:
    - Thưa bà con hai họ. Để giữ trọn vẹn hạnh phúc gia đình, các cụ ta ngày xưa dạy rằng: “Chồng giận thì vợ làm lành - Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì?”. Nhưng đối với nhà thơ Lê Thành Nghị, tôi thấy nên sửa câu ca dao trrên cho phù hợp, dù không được vần lắm là: “Vợ giận thì chồng làm lành - Miệng cười hớn hở rằng em giận gì?” Vì sao lại thế? Là vì, cô dâu đám cưới này chính là Trương …Phi! Ai không tin xem lại thiếp mời đám cưới.

    Sau đó là tiếng rào rào của mọi người lật giở thiếp mời và tiếng cười mỗi lúc một to. Đúng cô dâu tên là Trương Thị Kim Phi.

    (Nguồn: Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Hải Hà – NXB Giáo Dục H. 2003)
    Dẫu có buồn, dẫu có vui cũng là kỷ niệm.

  4. #4
    Ngày tham gia
    10-07-09
    Bài viết
    13
    Rep Power
    0

    Mặc định Sưu Tầm] Kể chuyện về các nhà thơ, nhà văn Việt Nam Trả lời chủ đề

    Hông bik sau này mình cóa dc vinh danh trên 4rum hok nhỉ

  5. #5
    le.missdmiss's Avatar
    le.missdmiss Guest

    Mặc định Nguyễn Tuân và chứng bệnh "chủ nghĩa xê dịch" khi về già

    Ai cũng biết Nguyên Tuân là nhà văn tài hoa. Tuy chỉ viết văn nhưng ông còn am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội hoạ, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh... Ông còn là một diễn viên kịch nói và là một diễn viên điện ảnh đầu tiên ở Việt Nam. Ông viết văn trước hết để khẳng định cá tính độc đáo của mình. Và ông thường vận dụng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để tăng cường khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật văn chương.
    Chúng ta còn biết Nguyễn Tuân là con người phóng túng, và tự gán cho mình một chứng bệnh mang tên "chủ nghĩa xê dịch". Trong cuộc sống, thú của ông là du lịch và dã ngoại. Ông đi không biết chán. Và ông đã 2 lần bị bắt do đi mà không biết mình đang ở đâu và đã vượt khỏi biên giới Việt Nam.

    Về già, Nguyễn Tuân cũng như bao nhiều người cao tuổi khác. Ông không thể tiếp tục dùng đôi chân của mình để chữa trị cho căn bệnh "chủ nghĩa xê dịch" của mình được. Và ông đã tự mình nghĩ ra một cách độc đáo khắc phục: Mắc võng, ôm balô và đung đưa cùng thưởng thức cuộc di chuyển kiểu dạo động con lắc.
    (Từ thầy giáo, giảng viên: La Khắc Hòa, GV trường SP1)

  6. #6
    Ngày tham gia
    11-02-09
    Đến từ
    Giữa cầu Long biên rẽ phải
    Bài viết
    2,074
    Rep Power
    60

    Mặc định


    Huy Cân và Xuân Diệu lại dùng từ mối tình thì hóa ra 2 nhà thơ là gay à

    To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.

  7. #7
    le.missdmiss's Avatar
    le.missdmiss Guest

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi KuKoTaYa Xem bài viết

    Huy Cân và Xuân Diệu lại dùng từ mối tình thì hóa ra 2 nhà thơ là gay à
    Các thi sĩ dùng từ mà lại. Tôi nhớ khi phân tích bài Việt Bắc của Tố Hữu, các cô giáo cũng dùng từ "mối tình" để diễn tả mối tình của cán bộ quân dân ta với chiến khu Việt Bắc.

  8. #8
    Ngày tham gia
    19-03-09
    Đến từ
    Hà Nội
    Bài viết
    963
    Rep Power
    0

    Mặc định

    Chủ nghĩa xê dịch: nghe cũng ấn tượng đấy anh Chung ạ! ^^

  9. #9
    Ngày tham gia
    08-04-09
    Đến từ
    Cuộc sống và tình yêu
    Bài viết
    732
    Rep Power
    46

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi KuKoTaYa Xem bài viết

    Huy Cân và Xuân Diệu lại dùng từ mối tình thì hóa ra 2 nhà thơ là gay à
    Có thể họ dùng từ để nói lên một tình bạn thân thiết, tri kỷ, sâu sắc hơn những tình bạn thông thường khác , không giả dối hời hợt hay vì vụ lợi trong cuộc sống.

    Chủ nghĩa xê dịch: nghe cũng ấn tượng đấy anh Chung ạ! ^^
    Chị cũng chưa nghe từ này bao giờ .
    Dẫu có buồn, dẫu có vui cũng là kỷ niệm.

  10. #10
    le.missdmiss's Avatar
    le.missdmiss Guest

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi ThuongNu Xem bài viết
    Có thể họ dùng từ để nói lên một tình bạn thân thiết, tri kỷ, sâu sắc hơn những tình bạn thông thường khác , không giả dối hời hợt hay vì vụ lợi trong cuộc sống.



    Chị cũng chưa nghe từ này bao giờ .
    Trong chương trình cải cách không có bài nào giới thiệu về tác gia Nguyễn Tuân, hay không có tác phẩm nào của Nguyễn Tuân hay sao mà chưa nghe bao giờ nhỉ?
    Trước đây khi học Chữ người tử tù (trong Vang bóng một thời) cô giáo mình nhắc đi nhắc lại cái cụm từ này. Sau đó lên lớp 12, khi học về phong cách cụ Nguyễn, lại đề cập nữa.

  11. #11
    Ngày tham gia
    11-02-09
    Đến từ
    Giữa cầu Long biên rẽ phải
    Bài viết
    2,074
    Rep Power
    60

    Mặc định

    ThuongNu đã học xong cấp 3 từ lâu rồi, và hình như ko học cấp 3 ở vn

    To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.

  12. #12
    Ngày tham gia
    08-04-09
    Đến từ
    Cuộc sống và tình yêu
    Bài viết
    732
    Rep Power
    46

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi le.missdmiss Xem bài viết
    Trong chương trình cải cách không có bài nào giới thiệu về tác gia Nguyễn Tuân, hay không có tác phẩm nào của Nguyễn Tuân hay sao mà chưa nghe bao giờ nhỉ?
    Trước đây khi học Chữ người tử tù (trong Vang bóng một thời) cô giáo mình nhắc đi nhắc lại cái cụm từ này. Sau đó lên lớp 12, khi học về phong cách cụ Nguyễn, lại đề cập nữa.
    Thực sự mình ít thấy từ " chủ nghĩa xê dịch " , mà mình chưa nghe luôn, hay do hồi đó đi học mải nhìn anh nào nên ko nghe được câu đó của giáo viên, ko biết có đúng ko nữa
    Dẫu có buồn, dẫu có vui cũng là kỷ niệm.

  13. #13
    le.missdmiss's Avatar
    le.missdmiss Guest

    Mặc định

    Trích dẫn Nguyên văn bởi KuKoTaYa Xem bài viết
    ThuongNu đã học xong cấp 3 từ lâu rồi, và hình như ko học cấp 3 ở vn
    Thảo nào!!!!!!!!!!
    @ThuongNu: Như thế tốt hơn chăng. Nghe cô giáo giảng về NT, mình cũng chan chán vì....khó hiểu.

  14. #14
    duy9191's Avatar
    duy9191 is offline Homeviet Member Hành hiệp trượng nghĩa
    Ngày tham gia
    16-01-09
    Đến từ
    Southest Forest
    Bài viết
    491
    Rep Power
    45

    Mặc định

    Chủ nghĩa xê dịch : luôn thay đổi chỗ, thoát li trách nhiệm của bạn thân đối với gia đình và xã hội, sách ghi vậy !

    To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.

  15. #15
    Nước Mắt Chiến Binh's Avatar
    Nước Mắt Chiến Binh is offline <<Tề Thiên Đại Thánh>> Hành hiệp trượng nghĩa
    Ngày tham gia
    18-02-09
    Đến từ
    Hoa Quả Sơn
    Bài viết
    295
    Rep Power
    42

    Mặc định

    --------------------------------------------------------------------------------

    Ai cũng biết Nguyên Tuân là nhà văn tài hoa. Tuy chỉ viết văn nhưng ông còn am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội hoạ, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh... Ông còn là một diễn viên kịch nói và là một diễn viên điện ảnh đầu tiên ở Việt Nam. Ông viết văn trước hết để khẳng định cá tính độc đáo của mình. Và ông thường vận dụng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để tăng cường khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật văn chương.
    Chúng ta còn biết Nguyễn Tuân là con người phóng túng, và tự gán cho mình một chứng bệnh mang tên "chủ nghĩa xê dịch". Trong cuộc sống, thú của ông là du lịch và dã ngoại. Ông đi không biết chán. Và ông đã 2 lần bị bắt do đi mà không biết mình đang ở đâu và đã vượt khỏi biên giới Việt Nam.

    Về già, Nguyễn Tuân cũng như bao nhiều người cao tuổi khác. Ông không thể tiếp tục dùng đôi chân của mình để chữa trị cho căn bệnh "chủ nghĩa xê dịch" của mình được. Và ông đã tự mình nghĩ ra một cách độc đáo khắc phục: Mắc võng, ôm balô và đung đưa cùng thưởng thức cuộc di chuyển kiểu dạo động con lắc.
    (Từ thầy giáo, giảng viên: La Khắc Hòa, GV trường SP1)
    __________________


    Nhìn đâu giống người Mỹ đâu.....

    To view links or images in signatures your post count must be 10 or greater. You currently have 0 posts.
    Nhìn Lại Cuộc Đời Như Giấc Mộng
    Được - Thua - Thành - Bại Bổng Chốc Hóa Hư Không

  16. #16
    Ngày tham gia
    08-04-09
    Đến từ
    Cuộc sống và tình yêu
    Bài viết
    732
    Rep Power
    46

    Mặc định Nhà văn Đoàn Minh Tuấn: Những chuyện bi hài quanh cái tên!

    Dù đã gần kề cái tuổi bát thập nhưng nhà văn Đoàn Minh Tuấn còn nhiều nhiệt tâm với văn chương lắm… Với hai đoạn trích "Một sáng thu xưa" và "Phong cảnh đền Hùng" được chọn in trong SGK đã mang lại cho ông nhiều niềm vui nhưng cũng không ít phiền toái, thậm chí có những bận phải “dở khóc dở cười”.

    * Say mê phong cảnh đền Hùng

    Không sinh ra ở Phú Thọ, cũng chẳng lớn lên ở nơi Đất Tổ nhưng nhà văn Đoàn Minh Tuấn cho rằng mình có nhiều duyên nợ với mảnh đất thiêng này. Ông kể lại, trong những ngày tháng học tập và công tác ngoài Bắc ông đến đền chừng Hùng 5 - 6 lần vì có quen với một người bạn là thầy giáo, quê Phú Thọ. Ngay những lần đầu tiên đặt chân tới mảnh đất này, ông đã bị vẻ đẹp kỳ vĩ của miền ngã ba Bạch Hạc hút hồn. Bước qua 495 bậc đá lần lượt qua các Đền Giếng, Đền Hạ, Đền Trung và Đền Thượng như đi qua cả chiều dài lịch sử với những chiến công hiển hách của cha ông, tận nghe truyền thuyết trăm voi chầu về Đất Tổ và những câu chuyện về Bác Hồ. Đó chính là nguồn cảm hứng mãnh liệt để ông bắt đầu tập 1 của Núi sông hùng vĩ.

    Trong đó đoạn trích "Phong cảnh đền Hùng" được chọn giảng trong SGK lớp 2, tập 2, sau này có bổ xung thêm và in trong sách Ngữ văn lớp 5, tập 2. Giống như một người hướng dẫn tậm tâm và sâu sắc, nhà văn Đoàn Minh Tuấn đã gợi lên vẻ đẹp tráng lệ của Đền Hùng và vùng đất Tổ, đồng thời bày tỏ niềm thành kính thiêng liêng của con người đối với tổ tiên qua việc lồng ghép những truyền thuyết dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc.

    * Khổ vì cái tên “Đoàn Minh Tuấn”


    Không ngoài ý định ghi lại những cảm xúc trước thiên nhiên, con người mỗi nơi mình đặt chân đến, thành công của "Núi non hùng vĩ" và những đoạn trích được chọn in trong SGK đã khiến cái tên Đoàn Minh Tuấn đến gần hơn với độc giả mọi lứa tuổi. Ông cảm thấy rất hạnh phúc những khi đến nhà bạn bè chơi, những đứa bé được học tác phẩm của ông khi biết chính ông là tác giả thì mừng rỡ lắm và còn ríu rít hỏi ông: “Sao bác viết hay vậy? Bác được đi nhiều nơi thích thích thật”…, hay là “sau này con cũng làm như bác Tuấn”…

    Ấy là những chuyện vui, cũng có những chuyện “dở khóc dở cười” mà chung quy chỉ tại mỗi cái tên!

    Ông kể: Hồi con trai tôi đang học lớp 5, một hôm cháu về nhà và khóc nức nở dỗ mấy cũng không nín, gặng hỏi mãi cháu mới nói: Hôm nay ở lớp học đến bài

    Một sáng thu xưa nhưng cô lại không dạy. Cô bảo bỏ tác phẩm này không học nữa vì tác giả của nó đã… bị bắt rồi. Nó hỏi lại, thì được cô giáo trả lời rằng, cô đã đọc trên báo có đưa tin ông Đoàn Minh Tuấn vừa bị bắt vì tội chứa gái mại dâm nên không học tác phẩm của ông ấy nữa! Thằng con trai tôi nghe thế, rồi bị bạn bè trêu trọc thì ấm ức, cứ nghĩ bố làm chuyện không hay, bị công an bắt thật nên bao nhiêu đổ hết lên đầu bố.

    Tôi nghe xong chuyện giận lắm, đến tận trường cháu học để làm rõ chuyện. Thực ra đúng là có tên Đoàn Minh Tuấn bị bắt thật nhưng đó không phải là tôi mà chỉ là một người trùng cả họ cả tên và cô giáo đã nhầm lẫn với chính tôi là tác giả của Một sáng thu xưa. Cuối cùng thì mọi chuyện cũng được giải quyết, tôi nhận được lời xin lỗi và tác phẩm của tôi là được giảng dạy bình thường.

    Lại thêm một lần khác, trên một tờ báo có bài viết “Nén hương cho Đoàn Minh Tuấn”, các đồng nghiệp ngỡ tưởng ông đã mất còn rậm rịch chuẩn bị vòng hoa đến viếng nhà văn Đoàn Minh Tuấn. May thay, một số cán bộ đi “tiền trạm” khi tiếp cận nhà riêng của ông đã nhìn thấy “người quá cố” đang ngồi uống trà một mình! Hóa ra, lại một lần nữa vì cái tên bị trùng mà sinh ra nhầm lẫn, khiến các bạn văn của tác giả Đoàn Minh Tuấn được một phen hú hồn! Đấy là chưa kể những chuyện lẻ tẻ về bài viết, nhuận bút trên báo chí…

    * Dạy cho trẻ cảm thụ chứ không phải nhồi nhét

    Có các tác phẩm trong SGK nên nhà văn Đoàn Minh Tuấn cũng rất quan tâm đến việc dạy văn và học văn. Theo ông SGK Ngữ văn của ta hiện còn khá nhiều sơ suất, chưa thực sự lựa chọn được những tác phẩm tinh tuyển, nội dung còn nhiều sạn và thậm chí còn chưa có sự thống nhất về mặt chính tả. Đặc biệt, vấn đề dạy văn đang ở tình trạng đáng lo ngại.

    Thêm vào đó là cách dạy văn thiếu khoa học. Dạy văn là dạy cho trẻ cảm thụ chứ không phải nhồi nhét. Văn chương không phải thứ cứ nhồi là được. Nếu trẻ yêu văn những lại chán những giờ văn thì dần dần tình yêu ấy cũng mòn đi. Điều đó càng cho thấy người thầy dạy văn có ảnh hưởng vô cùng lớn. Một thầy giáo dạy văn giỏi phải là người tạo được sức hấp dẫn trong mỗi giờ văn, khơi dậy niềm ham mê ở trẻ và cho chúng hòa cùng không khí của tác phẩm từ những tác phẩm lãng mạn, nhẹ nhàng đến những những tác phẩm hào hùng, gân guốc, thậm chí là cả những tác phẩm tưởng như khô cứng! Làm được điều đó thì chẳng những trẻ yêu văn, ham văn, đến với văn chương thực sự mà văn chương sẽ giúp chúng trưởng thành lên nhanh chóng…Đây chính là ý nghĩa sâu sắc những người dạy văn cần hướng tới.

    Yên Khương ( VHTT)
    Dẫu có buồn, dẫu có vui cũng là kỷ niệm.

  17. #17
    Ngày tham gia
    08-04-09
    Đến từ
    Cuộc sống và tình yêu
    Bài viết
    732
    Rep Power
    46

    Mặc định Nhà văn Sương Nguyệt Minh : rửa bát vì thua cá độ

    Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Một tháng… rửa bát vì thua cược EURO

    Nhà văn Sương Nguyệt Minh đã tỏ ra “sáng suốt” xắp xếp hợp lý mọi việc từ cơ quan đến gia đình để tận hưởng niềm vui bóng đá với những hồi hộp, xao xuyến, buồn vui và đi đến tận cùng Euro - 2008. Thế nhưng chỉ vì “hoa tuylip” Hà Lan bị “gấu” Nga “quần nát” khiến ông buồn bã, thua cược với chính con trai lớn của mình. “Vì danh dự của một người đàn ông”, đại tá - nhà văn Sương Nguyệt Minh phải “chơi đẹp”, chấp nhận… rửa bát đúng một tháng ròng như đã giao kèo từ trước khi trận đấu diễn ra…”

    Lai rai chuyện xem bóng đá của các nhà văn

    Euro lần thứ 8 tổ chức tại CHLB Đức năm 1988, đơn vị tôi đóng ở ngoại thành Hà Nội. Ngày đó, tôi mê bóng đá đến nỗi nhất định không nghe qua đài tiếng nói hoặc xem ti vi đen trắng mà gò lưng đạp xe đạp 15 cây số tìm đến nhà người quen trong nội thành xem ti vi màu cho kỳ được trận Hà Lan - Liên bang Đức. Không khí bóng đá trong đơn vị cực kỳ sôi nổi; có cái màn hình đen trắng cả trăm con người dán mắt vào, mỗi khi bóng vào cầu môn thì reo hò ầm ĩ, đến mức chú lính trẻ đang gác cũng bỏ “bót” vác súng chạy vào ngó. Xem bóng đá là cứ phải đến sân vận động hoặc trực tiếp ti vi mới sướng; chứ nghe bình luận qua đài chán lắm, nghe qua đài là người ta đã nghĩ hộ cho mình rồi.

    Sau này, khi chuyển về làm ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội thì tôi thấy các ông nhà văn lại càng đắm say bóng đá hơn. Trước lúc làm việc, bao giờ cũng tụ tập uống nước ở phòng khách rồi bàn luận về bóng đá. Sôi nổi, bình luận có nghề hơn là nhà thơ Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu. Ông Chu Lai xem bữa đực bữa cái, nhưng cứ chọn một cầu thủ yêu mến nhất, chọn một trận xem kỹ càng nhất rồi góp vui “bình luận”; người mới gặp cứ nghĩ nhà văn của “Ăn mày dĩ vãng” rất thạo bóng đá; kỳ thực cả tháng Euro hoặc Worlcup, ông Chu Lai xem có vài trận còn thì thức khuya “cày” tiểu thuyết. Tôi nhớ có một vài lần, nhà văn Nguyễn Trí Huân lúc đang còn làm Tổng biên tập VNQĐ “phát lệnh”: “Lui giao ban lại, để anh em xem nốt ti vi phát lại trận bóng tối qua”. Lúc sinh thời, nhà văn Nguyễn Minh Châu cũng rất yêu bóng đá, ông đã viết thiên truyện ngắn “Sân cỏ Tây Ban Nha”; còn nhà văn Khuất Quang Thụy thì viết phóng sự “Worlcup về làng”, hai tác phẩm này đều in ở Phụ san Văn nghệ Quân Đội.

    Euro năm 2000 tổ chức tại Hà Lan và Bỉ, dạo ấy Tạp chí Văn nghệ Quân đội còn làm tờ Phụ san cũng dành một góc mời bạn đọc dự đoán kết quả kết quả vô địch bóng đá châu Âu. Các nhà văn, nhà thơ của Tạp chí cũng tham gia; tôi nhớ một hôm, gần như tất cả anh em trong tòa soạn đang ngồi đưa ra dự đoán của mình: Ông Anh Ngọc thì đoán Hà Lan, Lê Lựu nhắm tới Đức, Nguyễn Đức Mậu thì quả quyết đội Ý, Vương Trọng thì Tây Ban Nha vô địch… Bỗng từ đâu đó ông Trần Đăng Khoa xuất hiện như trên trời rơi xuống, phẩy tay, nói lớn: “Euro năm nay, đội tuyển… Lào sẽ vô địch. Ai theo tôi thì thắng!”. Tất cả mọi người như… “chết lặng” đi một chốc rồi cười ầm lên. Hoá ra, tác giả của những “Sao không về vàng ơi”, “Mưa”, “Góc sân khoảng trời” rất yêu mến đội Lào và ông đang nghĩ trong đầu đội Lào ở Tiger Cup chứ không phải Euro - 2000.

    Phải rửa bát

    Nhà tôi xem bóng đá mỗi người một kiểu. Con trai thứ hai của tôi trước đây rất mê thích bóng đá. Zinedine Zidane của đội tuyển Pháp và Văn Quyến của Việt Nam mê dụ nó đến mức thần tượng. Thế nhưng sau cú húc đầu của cầu thủ này đối với trung vệ Marco Materazzi của đội tuyển Ý, và Văn Quyến tham ra vụ cá độ thì tự dưng nó lãnh cảm với bóng đá đến tận bây giờ…; dửng dưng, thậm chí “cạch bóng đá”, không thấy ngó ngàng đến nữa. Cháu rất cực đoan, nhưng tôi tin vẻ đẹp và tình yêu bóng đá sẽ trở lại trong lòng cháu. Vợ tôi thì chỉ thích xem đá penenty. Trận nào trước khi đi ngủ cũng chỉ dặn con trai lớn hoặc dặn tôi: “Nếu có đá 11m thì hãy gọi mẹ”. Đã gọi thì nửa đêm gà gáy cô ấy cũng dậy xem sút phạt. Còn tôi và cậu con cả là “ngốn được” tất cả các trận từ đầu chí cuối. Con lớn để đồng hồ báo thức và gọi bố; có đêm tôi thức viết đến lúc đó rồi xem luôn. Sáng ra mệt bã người, nhưng vẫn thích. Bố con ngồi xem thấy con mấy năm trước bé hin hin, chỉ biết xem rồi ồ, à; giờ bình luận, khen chê ra phết. Mừng cho bóng đá, mừng vì thấy con mình trưởng thành. Trận tứ kết 3, hai bố con cược nhau: ai thua phải rửa bát 1 tháng. Tôi cược Hà Lan thắng; nhưng rốt cục lại thua. Thua đồng nghĩa với việc tôi phải… rửa bát đến hết ngày 21 tháng 7. 50 tuổi đầu còn phải còm cọm rửa bát, mẹ cháu thương quá rửa hộ. Cháu bảo: Bố không được “xù” vụ đó; nó là “danh dự của một người đàn ông”. Lại đành phải tiếp tục… rửa bát, trong nỗi buồn vui rất khó tả.

    Cái đẹp: Mẫu số chung của bóng đá và văn chương

    Bóng đá như là nghệ thuật, là cái đẹp; đẹp đến từng chi tiết rất nhỏ. Thoạt đầu, nhìn cứ tưởng bóng đá thuần túy mang vẻ đẹp của hình thức. Nó hợp với những người viết văn hành động, tả cảnh, tả người. Nó không thể hợp với người viết văn chương theo kiểu tâm lí, có những ngẫm ngợi, day dứt, dằn vặt. Bóng đá chưa dành cho nội tâm, chưa dành cho sâu sắc. Với những người viết chuyên đi khai thác tâm lí nhân vật mà đi tìm để “khai thác tâm tý trong bóng đá” thì không thể có. Vợ tôi bảo: Có mỗi một quả bóng, 22 thằng đàn ông cứ chuyền đi chuyền về. Chán. Nhạt phèo… Cô ấy chỉ thích mỗi pha gay cấn đá penenty… Hoá ra, không phải như thế. Bóng đá hiện đại không chỉ thể lực, kỹ thuật mà còn là cuộc đấu trí tuệ của những cái đầu. Chỉ có những người am hiểu bóng đá thì mới hiểu hết chiến thuật; người xem thoáng qua, hời hợt, không dành tình yêu cho nó thì chỉ thấy vẻ đẹp hình thức; nhất là phụ nữ. Có lúc tôi nghĩ: phụ nữ dường như xem để ngắm nhìn vẻ đẹp trai cường tráng và chất đàn ông của cầu thủ chứ không phải xem thi đấu.

    Tất nhiên, văn chương và bóng đá là hai thế giới, hai lĩnh vực khác nhau, nhưng nó có một mẫu số chung là đi đến cái đẹp. Tôi cho rằng, bóng đá dường như “gần” với thơ hơn. Các nhà thơ tôi thấy đắm say cuồng nhiệt bóng đá hơn các nhà văn; các nhà văn mê đắm bóng đá nhưng có vẻ bình thản hơn.

    Bóng đá còn mang đến cái đẹp ngoài bóng đá đó là tinh thần, niềm vui cho nhiều người mà không chỉ riêng ai. Bóng đá làm cho giao thông trên đường giảm bớt ùn tắc nếu như trận cầu ngày hôm đó diễn ra đúng vào giờ cao điểm. Người ta ở nhà xem những trận bóng đá hay, ít đi ra đường; trộm cắp cũng giảm nhiều, chúng cũng bỏ chôm chỉa để ở nhà reo hò cùng trái bóng chứ.

    Giới sáng tác xem bóng đá thì trong lòng lúc nào cũng rạo rực, xao xuyến; cái chai lỳ, sơ cứng cũng theo đó tiêu tan biến mất. Những người cầm bút như chúng tôi sợ nhất sự vô cảm, sơ cứng, chai lì, dửng dưng; nó kìm hãm néo giữ, không sáng tác được. Nhờ có cái hay, cái đẹp… của bóng đá tiếp sức, bổ xung; nhiều khi tôi thấy mình háo hức hơn, bay bổng hơn, thậm chí là rất thăng hoa trong sáng tác.

    YÊN KHƯƠNG - HUY THÔNg (VHTT)
    Dẫu có buồn, dẫu có vui cũng là kỷ niệm.

  18. #18
    Ngày tham gia
    08-04-09
    Đến từ
    Cuộc sống và tình yêu
    Bài viết
    732
    Rep Power
    46

    Mặc định Nhà thơ Hoàng Trung Thông

    Hoàng Trung Thông nổi tiếng là “viện trưởng nghèo nhất, dân dã nhất”. May mắn đời ông là có được người vợ hiền thảo, chịu đựng, vén khéo. Bà một tay nuôi đàn con lớn lên, thành người, hết lòng yêu thương và chăm sóc chồng con. Những vần thơ ông viết tặng vợ đầy day dứt: “Còn anh thơ rượu, em xuôi ngược/ Lo lắng ngày đêm không nghỉ ngơi”…

    Hiểu và thương

    Căn gác nhỏ trên đường Ngô Quyền từ ngày ông ra đi đến giờ vẫn thế, cũ kỹ và đạm bạc, khiêm nhường và khuất lấp, như con người ông. “Gác Phong Tao”, nơi xưa kia là chốn đàm đạo văn chương thơ phú cùng bạn bè của ông giờ yên ắng, đồ đạc chẳng có gì, ngoài bức ảnh gia đình ông thời trẻ. Bà Hồ Thị Hoa, vợ ông, năm nay đã 80 tuổi, nhưng còn minh mẫn lắm. Bà nắn nót viết tặng tôi tập sách Hoàng Trung Thông - những người thân, những người bạn. Bà kể chuyện về ông như thể ông vừa đi đâu vắng vài ngày, với tất cả niềm yêu kính, tin tưởng:

    “Tôi và ông ấy là người cùng làng, cưới nhau từ hồi chống Pháp. Quê tôi có tục cưới nhau xong hai năm mới đón dâu về. Hồi ấy làng tôi phong kiến lắm, cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy thôi. Cả đời tôi chỉ biết có một mình ông ấy. Chồng tôi là người đơn giản, ăn mặc thế nào cũng được, chỉ mê thơ và mê bạn thôi. Ông ấy mồ côi cha từ năm tám tuổi, tự lực học hành, nên trong cách giáo dục con, ông luôn coi trọng sự tự lập.

    Ông ấy chẳng bao giờ giáo huấn điều gì, cũng chẳng kỳ vọng hay áp đặt, rất tôn trọng sự tự do của các con. Cũng làm quan đấy, nhưng cấm có bao giờ ông ấy nhờ vả ai để xin xỏ điều gì cho con. Cũng may là các cháu nhà tôi đứa nào cũng học hành nên người, tốt nghiệp đại học cả. Cưới nhau xong, ông ấy đi công tác biền biệt, một tay tôi nuôi con thôi. Ông ấy là người hiền lành, chỉ tội hay uống rượu, nhưng được cái yêu thương vợ con, cả đời chúng tôi chẳng khi nào cãi cọ nhau.

    Suốt mười năm cuối đời ông ấy đau ốm vì rượu, chăm ông ấy cũng vất vả lắm. Thương chồng, tôi làm thêm đủ thứ, từ gỡ tơ rối, đan len, ngâm các loại rượu trái cây trong nhà, nấu những món ăn mà ông ấy thích, để rủ bạn về nhà uống cho nó đỡ độc hại. Những năm cuối đời, làm viện trưởng suốt mười năm liền ở một viện lớn đầu ngành, hàng ngày ông ấy vẫn đi bộ đến cơ quan và trong túi hầu như chẳng mấy khi có tiền”.

    Mẹ tôi - người anh hùng

    Hoạ sĩ Hoàng Phượng Vĩ, con trai nhà thơ Hoàng Trung Thông đã “phong” cho mẹ mình “hai lần anh hùng”, vì đã chịu đựng được hai người nghiện rượu trong nhà là chồng và con trai. Hoàng Phượng Vĩ kể: “Mẹ tôi không chỉ là mẹ của các con, mà còn là “mẹ” của bố tôi. Tôi nhớ mãi hồi đi sơ tán. Dù là tổng biên tập báo Văn nghệ, có ôtô riêng, nhưng bố nhường xe hơi cho người khác, gò lưng chở mẹ tôi trên xe đạp hơn ba chục cây số vào thăm con. Mẹ tôi vốn gầy gò, đến đoạn đường có ổ gà, xe nảy xóc khiến bà rơi xuống đất mà ông không hề biết. Ông cứ thế bon bon đạp xe đến nơi, quay lại thì chẳng thấy bà đâu…

    Mẹ tôi là cháu ngoại quan thượng thư, cháu nội ông nghè. Mẹ nấu ăn rất ngon. Mỗi ngày mẹ chỉ ngủ ba tiếng, đi làm về là bà lao vào chợ búa, cơm nước, giặt giũ, có hôm phải thức suốt đêm để hứng nước. Mẹ đọc gần hết tác phẩm của bố, nhưng chỉ đọc “lén lút”. Khi bố mất, tôi bỗng giật mình nghe mẹ nói: “Thơ bố con ngày xưa cứng, sau này thơ bố con buồn”. Chiều chồng, chiều con, chiều cả thiên hạ, trừ bản thân. Chưa bao giờ thấy mẹ tôi nói to, lúc nào cũng nhẹ nhàng. Mẹ rất nghị lực, rất đa cảm, nhưng là người kín đáo, nên bà buồn cũng chẳng ai biết, chỉ có tiếng thở dài trong đêm.

    Bố tôi “tinh hoa bát ngát”, nhưng về cuối đời ông gần như gục đổ. Vì lắm nỗi buồn phiền, bố tôi dùng rượu giải sầu. Gia đình đau đớn lắm, nhưng không can được. Các con hiểu, mẹ tôi hiểu, nên đã thông cảm cho những cơn say triền miên của ông. Âu đó cũng là cách xử sự của một bậc nho sĩ tiết tháo, bản lĩnh. Những vần thơ cuối đời ông viết cô đơn đến cùng cực: “Một bãi cát dài nằm vắng vẻ/ Một người mộng ủ đứng buồn tênh/ Này trời, này biển, này cây bãi/ Cũng giống như ta, chỉ một mình”...

    Bao dung cả “những phút xao lòng”

    Hoàng Trung Thông vốn là người chung thuỷ, nhưng thi nhân nào chẳng có bóng hồng. Đầu những năm 80, ông gặp Châu Anh Phụng (lúc đó 35 tuổi), cháu cụ Nguyễn Đình Chiểu. Bà cao ráo, xinh đẹp, làm thơ cổ rất hay. Bà thường xuyên hoạ thơ với ông, và ông đã bỏ Hà Nội vào Sài Gòn gặp bà cùng với Xuân Diệu. Bà Hoa biết chuyện, nhưng không ghen. Bà vẫn tin rồi ông sẽ trở về. Suốt mấy tháng trời cả viện Văn nhớn nhác, gọi điện cho ông thì ông bảo tìm người khác thay đi.

    Và rồi niềm tin của bà đã được đền đáp. Ông trở về… với những bài thơ tình như lửa cháy. Có lẽ ông đọc được nỗi đau đớn của bà, và không tiếp tục mối quan hệ với bà Phụng nữa. Nhưng bà vẫn viết thư đều cho ông và gửi về địa chỉ nhà ông. Bà Hoa không trách móc gì khi ông trở về, vẫn đón ông với sự chăm sóc ân cần, và chẳng bao giờ đụng đến những lá thư. Bà tôn trọng tình cảm đó của ông. Khi ông ốm nặng ở Sài Gòn, bà Phụng cũng hết lòng chăm sóc, thuốc men.

    Hồi hội nghị nhà văn Á - Phi được tổ chức tại miền Nam, ông ước giá ban tổ chức cho vợ cùng đi để bà được trông thấy miền Nam giải phóng thì hay quá. Tiếc thay cho đến lúc từ giã cõi đời, ông vẫn chưa thực hiện được ước nguyện giản đơn này.

    Theo KIM YẾN - Sài gòn T.T.
    Dẫu có buồn, dẫu có vui cũng là kỷ niệm.

Những chủ đề tương tự được tìm thấy.

  1. Văn hoá ở đâu ?????
    By M_minh in forum Tranh Luận - Ý kiến
    Trả lời: 4
    Bài viết cuối cùng: 23-04-2010, 01:04 AM
  2. Nhờ tìm văn và thơ về xuân
    By Ultima in forum Câu Lạc Bộ Thơ Văn
    Trả lời: 6
    Bài viết cuối cùng: 03-03-2009, 04:45 PM
  3. Trả lời: 0
    Bài viết cuối cùng: 01-03-2009, 09:25 PM

Bookmarks

Quyền hạn

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi bài trả lời
  • Bạn không thể gửi kèm files
  • Bạn không thể sửa bài đã gửi
  •